Dòng tiền này có tác động tích cực rõ ở cấp hộ gia đình, và ở nhiều nơi nó là một nguồn lực đáng kể. Nhưng việc xây một chiến lược kinh tế quanh nó gặp bốn vấn đề cấu trúc đáng được nêu rõ.
Vấn đề một: nó không tạo ra năng lực sản xuất
Tiền đến từ lao động ở nơi khác, nên nó làm tăng sức mua mà không làm tăng khả năng sản xuất tại chỗ.
Nếu nguồn cung nội địa không tăng theo, kết quả là giá tăng chứ không phải sản lượng tăng.
Nghĩa là tác động tích cực của nó phụ thuộc vào việc nền kinh tế có khả năng đáp ứng sức mua tăng thêm hay không — và khả năng ấy là một câu hỏi về chính sách phát triển, không phải về dòng tiền.
Vấn đề hai: nó phụ thuộc vào việc có người đi
Dòng này tồn tại vì có người rời đi, và quy mô của nó gắn với quy mô của dòng người.
Nghĩa là một chiến lược dựa vào nó là một chiến lược dựa vào việc tiếp tục mất lao động — với mọi chi phí đã nói ở chuyên mục trước.
Và nó phụ thuộc vào chính sách của những nước khác, vốn nằm ngoài tầm kiểm soát.
Một nguồn thu mà bạn không kiểm soát được cả quy mô lẫn tính bền vững là một nền tảng yếu cho bất kỳ kế hoạch dài hạn nào.
Vấn đề ba: nó giảm dần qua các thế hệ
Đây là quy luật được quan sát khá nhất quán.
Người mới đi gửi nhiều nhất; mức gửi giảm dần theo thời gian ở nước ngoài.
Thế hệ thứ hai sinh ra ở nước ngoài gửi ít hơn nhiều hoặc không gửi, vì mối liên hệ với quê hương của cha mẹ khác về bản chất.
Nghĩa là một dòng ổn định đòi có người mới đi liên tục — nó không tự duy trì từ một nhóm người đã đi.
Điều này làm cho việc coi nó như một nguồn thu lâu dài trở nên rủi ro hơn nhiều so với vẻ ngoài ổn định của nó qua các năm gần đây.
Vấn đề bốn: tác động vĩ mô ở quy mô lớn
Ở những nền kinh tế mà dòng này chiếm tỉ trọng rất lớn, có những hiệu ứng vĩ mô được nghiên cứu.
Dòng ngoại tệ lớn và ổn định có thể tác động lên tỉ giá, làm cho hàng hoá sản xuất trong nước kém cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế.
Điều đó có thể làm giảm động lực phát triển các ngành xuất khẩu — chính những ngành tạo ra việc làm trong nước.
Mức độ của hiệu ứng này là chủ đề tranh luận và nó chỉ đáng kể ở những nơi tỉ trọng rất cao — nhưng nó là một cơ chế có thật cần được biết.
Điều dòng tiền này làm rất tốt
Để cân bằng, cần nói rõ phần này.
Nó giảm nghèo ở cấp hộ gia đình trực tiếp và hiệu quả, không qua trung gian nào và không có tổn thất phân bổ.
Nó là một cơ chế bảo hiểm phi chính thức khi hộ gặp cú sốc.
Nó tài trợ cho giáo dục và y tế — hai khoản đầu tư vào con người có lợi ích lâu dài.
Và nó ổn định hơn nhiều so với các dòng vốn khác, như đã nói ở bài đầu chuyên mục.
Nên kết luận đúng không phải là nó ít giá trị mà là nó giải quyết những vấn đề ở cấp hộ gia đình rất tốt và không giải quyết được những vấn đề ở cấp cơ cấu kinh tế — vốn đòi những công cụ khác.
Điều suy đoán được và điều không
Suy đoán được: mức gửi giảm dần theo thời gian ở nước ngoài và qua các thế hệ, vì cơ chế của nó gắn với sự thay đổi của quan hệ gia đình.
Suy đoán được: dòng này sẽ tiếp tục giảm nghèo ở cấp hộ, vì cơ chế trực tiếp và rõ.
Không suy đoán được: quy mô trong tương lai, vì nó phụ thuộc vào chính sách của các nước đến.
Và không suy đoán được: tác động ròng lên cơ cấu kinh tế của một nước cụ thể, vì nó phụ thuộc vào tỉ trọng và vào những chính sách khác đang được áp dụng.
Các nghiên cứu về tác động vĩ mô của kiều hối được công bố bởi các tổ chức tài chính quốc tế và viện nghiên cứu phát triển — hãy tham khảo tại chính nguồn ấy, và lưu ý rằng kết quả khác nhau theo bối cảnh.
Vì sao kiều hối không thay thế được chiến lược phát triển?
Vì nó làm tăng sức mua mà không làm tăng năng lực sản xuất — nếu nguồn cung nội địa không tăng theo thì kết quả là giá tăng.
Vì sao nó giảm qua các thế hệ?
Vì người mới đi gửi nhiều nhất và mức gửi giảm dần theo thời gian; thế hệ sinh ra ở nước ngoài gửi ít hơn nhiều hoặc không gửi.
Hiệu ứng vĩ mô ở quy mô lớn là gì?
Dòng ngoại tệ lớn có thể tác động lên tỉ giá, làm hàng sản xuất trong nước kém cạnh tranh — mức độ là chủ đề tranh luận.
Dòng tiền này làm tốt điều gì?
Giảm nghèo ở cấp hộ trực tiếp và không có tổn thất phân bổ, làm cơ chế bảo hiểm khi có cú sốc, và tài trợ cho giáo dục cùng y tế.